Tuesday, December 30, 2014

NHÀ CỔ

Nhà cổ trăm cột Cần Đước


Kienviet.net - Ở tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, thuộc xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, Nhà Trăm Cột là công trình kiến trúc điêu khắc cổ xây dựng theo lối nhà Rường xuyên trính của xứ Huế, nằm lọt giữa vùng quê Nam Bộ đã có từ hơn 100 năm nay. Ngôi nhà này có 68 cột chính và nếu tính luôn 52 cột vuông nhỏ phụ trợ ở hàng 5 và vòng đố vách chái xây bằng xi măng (đã được trùng tu sau này) thì ngôi nhà này có tới 120 cột lớn nhỏ. Khái niệm “Nhà trăm cột” như vậy chỉ là ước lệ. Công trình đã được Bộ Văn hóa - Thông xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia năm 1997.
Chủ nhân kiến tạo ngôi nhà - ông Trần Văn HoaChủ nhân kiến tạo ngôi nhà - ông Trần Văn Hoa
Chủ nhân kiến tạo ngôi nhà này là ông Trần Văn Hoa, khi mới 22 tuổi đã là ông Hội đồng quận Cần Đước thuộc tỉnh Gia Định thời Pháp thuộc. Khởi công vào đâì năm 1898 đời vua Thành Thái, sau 3 năm hoàn thành phần xây dựng thô, và thêm 2 năm để trang trí nội thất, đến năm 1903 thì hoàn thành và năm 1904 thì xong phần chạm khắc trang trí do nhóm 15 thợ từ làng Mỹ Xuyên - làng chạm khắc mộc nổi tiếng của Thừa Thiên - Huế thực hiện bằng chất liệu chủ yếu là các loại gỗ quý như cẩm lai, mun... Với diện tích 882m2, Nhà Trăm Cột tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện quay về hướng Tây Bắc. Nhà làm bằng các loại gỗ cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật; mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch Tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ “Quốc”, 3 gian, 2 chái.
Nhà Trăm Cột mang phong cách “nhà rường” Huế Nhà Trăm Cột mang phong cách “nhà rường” Huế
Bà Trần Thị Ngỏ (người ngồi bên phải), cháu dâu đời thứ ba của ông Trần Văn Hoa - hiện là chủ nhân của Nhà Trăm Cột. Bà Trần Thị Ngỏ (người ngồi bên phải), cháu dâu đời thứ ba của ông Trần Văn Hoa - hiện là chủ nhân của Nhà Trăm Cột.
Bà Trần Thị Ngỏ, chủ nhân ngôi nhà là cháu dâu đời thứ ba ông Trần Văn Hoa - người xây dựng Nhà Trăm Cột, cho biết, “Kết cấu ngôi nhà xây dựng theo lối nhà Rường xuyên trính đặc trưng của xứ Huế, khung sườn nhà không sử dụng hàng cột cái ở giữa mà từng cặp cột cái nối liền với nhau theo chiều ngang nhà và được đóng chặt bằng một thanh gỗ xuyên ngang. Đây là ưu điểm của ngôi nhà với bộ khung luôn chắc chắn và không gian trong nhà thoáng đãng khi không có hàng cột ở giữa. Đặc biệt, trang trí trong kiến trúc của Nhà Trăm Cột đã cho thấy nghệ thuật điêu khắc của các nghệ nhân ngày trước ở vào trình độ bậc cao qua cách bố cục, thể hiện đề tài cũng như xử lý kỹ thuật. Toàn bộ hệ thống vì kèo, xuyên được chạm khảm, chạm nổi, chạm lọng rất công phu qua các đề tài “vân hóa long”, “tứ thời”, “dây lá hóa” mang đặc trưng của Huế. Các gian nội tự và ngoại khách là nơi tập trung cao nhất giá trị thẩm mỹ của công trình mà người xưa đã gửi gắm trên từng nét chạm. Đó là một tập hợp đa dạng, phong phú các đề tài cổ điển như “tứ linh (long-lân-quy-phượng)”, “tứ tiết (mai-lan-cúc-trúc”, “bát quả”; các mô típ thể hiện Phúc - Lộc - Thọ bên cạnh các đề tài phương Tây như hoa hồng, sóc - nho cùng các yếu tố Nam bộ như mãng cầu, bình bát, khế, măng cụt. Tất cả đã được các nghệ nhân thể hiện công phu trên các vách ngăn, vách lá gió, bàn thờ, bàn tròn, bàn dài…một cách điêu luyện và tài tình.
Các bức hoành phi sơn son thếp vàng được treo trang trọng ở gian giữa Các bức hoành phi sơn son thếp vàng được treo trang trọng ở gian giữa
Ngoài hai lớp ngói âm dương, mái còn được lợp thêm một lớp “thí” để tăng độ mát cho ngôi nhà. Ngoài hai lớp ngói âm dương, mái còn được lợp thêm một lớp “thí” để tăng độ mát cho ngôi nhà.
Nét tinh xảo của kỹ thuật chạm trổ. Nét tinh xảo của kỹ thuật chạm trổ.
Chính phong cách tả thực khéo léo, tỉ mỉ, gò bó trong khuôn khổ cổ điển kết hợp với sự phóng khoáng, nho nhã uyển chuyển bởi các dây hoa lá là nét đặc thù trong chạm trổ của Nhà Trăm Cột. Gian ngoại khách được tô điểm bởi các bức hoành phi sơn son, thếp vàng, đã bộc lộ ý đồ của chủ nhà là hướng đến một cuộc sống sung túc, an nhàn, đồng thời ca ngợi cảnh đẹp, cầu phúc, cầu thọ.
Các vật dụng trong Nhà Trăm Cột đều làm bằng gỗ. Các vật dụng trong Nhà Trăm Cột đều làm bằng gỗ.
Gian thờ của Nhà Trăm Cột. Gian thờ của Nhà Trăm Cột.
Trong một không gian tĩnh lặng của miền quê Nam bộ, nhưng vật dụng nhuốm màu thời gian, nền gạch Tàu tổ ong, mòn khuyết dấu chân người bao năm tháng còn đọng lại trên đó. Theo các nhà nghiên cứu, đây là một ngôi nhà có kiểu thức thời Nguy�� n, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế. Nhưng do được làm theo đơn đặt hàng của chủ nhà trong bối cảnh Nam bộ thời thuộc Pháp nên có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, những nét độc đáo của ngôi nhà vẫn luôn là bằng chứng sống cho một phần lịch sử - văn hóa đất phương Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20./.
Xem thêm một số hình ảnh của ngôi nhà:
Nhà Trăm Cột được xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia năm 1997. Nhà Trăm Cột được xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia năm 1997.
Ngôi nhà xây dựng theo phong cách của nhà rường xuyên tính xứ Huế. Ngôi nhà xây dựng theo phong cách của nhà rường xuyên tính xứ Huế.
Nhà Trăm Cột đã hơn 100 tuổi. Nhà Trăm Cột đã hơn 100 tuổi.
3_579x768
Một số cột được thiết kế tinh xảo bên trong ngôi nhà trăm cột Một số cột được thiết kế tinh xảo bên trong ngôi nhà trăm cột
10_1024x684 473176_1024x573 473177_1024x573 473179_1024x573 ffff_1024x768
Huyền Anh - Tổng hợp

CHỢ NỔI MIỀN TÂY

6 chợ nổi độc đáo ở miền Tây

Về Long Xuyên để khám phá chợ nổi còn nét nguyên sơ, đến Trà Ôn để thưởng bún bò viên rau chuối hay ghé Sóc Trăng nghe những câu vọng cổ đậm chất miền Tây.

Dưới đây là 6 khu chợ nổi đặc sắc của miền Tây bạn nên khám phá nếu có dịp về vùng đất Cửu Long.
1. Chợ nổi Ngã Bảy – Hậu Giang
Chợ nổi Ngã Bảy còn gọi là chợ nổi Phụng Hiệp, thuộc thị xã Ngã Bảy được hình thành từ năm 1915. Đây là một khu chợ nổi tiếng của tỉnh Hậu Giang, nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân miền sông nước đồng bằng sông Cửu Long, không chỉ vậy đây còn là địa điểm thu hút đông đảo khách du lịch.
1-1314-1418813599.jpg
Chợ nổi Ngã Bảy, nét duyên của cô gái miệt vườn sông nước. Ảnh: Saigonstartravel.
Du khách sẽ được thấy cảnh bạt ngàn màu sắc của trái cây, rau quả, các đồ dùng sinh hoạt miền sông nước. Đặc biệt là màu đỏ tươi của chôm chôm, măng cụt, vị thơm của sầu riêng. Mỗi thuyền chỉ bán một loại trái cây hay mặt hàng thì nó sẽ được treo lơ lửng trên một cây sào cao gọi là cây bẹo như là một cách quảng cáo.
Có dịp đến đây du khách hãy thử lênh đênh trên mặt nước thưởng thức ly cà phê sóng sánh, nghe câu vọng cổ miên man và ngắm những tà áo bà ba nườm nượp mua bán trên ghe vô cùng thú vị.
2. Chợ nổi Ngã Năm – Sóc Trăng
Là tên gọi của khu chợ nổi tiếng ở thị trấn Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, nằm ở vị trí giao nhau của năm con sông: Cà Mau, Vĩnh Quới, Long Mỹ, Thạnh Trị và Phụng Hiệp. Đây là chợ nổi khá lâu đời và cũng nhộn nhịp nhất đồng bằng sông Cửu Long.
Khác với những khu chợ nổi khác, chợ Ngã Năm bắt đầu họp từ lúc 3h sáng, đến 5h thì chợ đông đúc hơn nhưng 8h phiên chợ bắt đầu tan. Từ xa xa du khách sẽ thấy những cây bẹo treo lủng lẳng hàng hóa như cải bắp, khoai tây, cà chua, hành, tỏi, ớt…
2-6958-1418813599.jpg
Với 10.000 – 20.000 đồng du khách sẽ được ngồi trên ghe dạo toàn cảnh khu chợ. Ảnh:Saigonphoto.
Có thể nói chợ nổi Ngã Năm có hầu hết sản vật của đồng bằng sông Cửu Long từ các loại gạo nổi tiếng của vựa lúa miền Tây đến các loại rau củ quả của miệt vườn Nam Bộ đến tôm, cua, cá sản vật đặc trưng của vùng sông nước. Chợ đông vui với những lời mời gọi của các bạn ghe, những hàng quán bồng bềnh di động như cháo, hủ tiếu, bún cá, cà phê…phục vụ nhu cầu cho du khách tham quan thưởng thức.
Chợ nổi Ngã Năm vẫn còn mang nét nông thôn bình dị hấp dẫn, vẫn giữ được cái hồn đặc trưng của chợ nổi miền Tây trong những chiếc áo bà ba, những điệu hát ngọt ngào của ca cổ miền Tây, những câu nói thân thương đậm chất Nam Bộ.
3. Chợ nổi Cái Răng – Cần Thơ
Là khu chợ nổi tiếng của mảnh đất Tây Đô thu hút đông đảo lượng du khách ghé đến mỗi khi có dịp du lịch Cần Thơ. Chỉ cách bến Ninh Kiều khoảng 4 km, du khách mất chừng 30 phút cho một hành trình bằng đường thủy từ bến Ninh Kiều.
DSC01638-JPG-8924-1418813599.jpg
Chợ nổi Cái Răng là điểm đến đặc biệt ở Cần Thơ. Ảnh: Hương Chi.
Chợ bắt đầu từ 5h sáng, đến 6h ghe thuyền các nơi đã đậu tấp nập và sầm uất. Nét đặc biệt ở chợ này chính là buôn bán các loại trái cây nổi tiếng của vùng đất phương Nam từ bưởi năm roi Vĩnh Long đến quýt hồng Lai Vung hay sầu riêng Cái Mơn…
Cũng như các chợ nổi khác người ta sẽ treo lên cây bẹo những loại hàng mà họ bán để du khách biết và mua. Đến đây du khách sẽ được hòa mình với thiên nhiên, sông nước, buổi sáng sớm bồng bềnh trên những chiếc ghe, ngắm bình minh lên dần sau những mái ghe và cảm nhận khung cảnh nhộn nhịp độc đáo của chợ nổi trên sông.
4. Chợ nổi Cái Bè – Tiền Giang
Chợ nổi Cái Bè thuộc ở huyện Cái Bè, Tiền Giang, ở cù lao Tân Phong trên sông Tiền rộng lớn giáp ranh giữa ba tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long và Bến Tre. Chợ là nơi mua bán trao đổi hàng hóa, làm trạm trung chuyển trái cây, sản vật đi khắp mọi miền và đồng thời cũng là điểm tham quan hấp dẫn của tỉnh Tiền Giang.
4-1524-1418813599.jpg
Chợ nổi Cái Bè vựa trái cây của đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Mientay.
Khác với những chợ nổi bình thường chỉ họp buổi sáng, chợ nổi Cái Bè bắt đầu buôn bán từ lúc tinh mơ cho đến tối khuya. Khi bình minh vừa lên cũng là lúc chợ nổi đã nhộn nhịn như một phố nhỏ trên sông. Những chiếc xuồng bán hàng rong như phở, hủ tiếu, bún, các loại tạp hóa…chạy luồn lách theo các mạn ghe, tàu trông rất sinh động. Ngồi trên thuyền lênh đênh, thưởng thức tô hủ tiếu hay ly cà phê thơm phức vào buổi sáng là một trải nghiệm khó tả.
Khi mặt trời khuất sau rặng cây đàng xa cũng là lúc “phố nổi” lên đèn, những ánh đèn lung linh đổ bóng làm cho cả một đoạn sông trở nên sống động, rực rỡ đầy sắc màu. Đến đây du khách chắc chắn sẽ cảm nhận được nhiều điều mới lạ của chốn sông nước miền Tây.
5. Chợ nổi Long Xuyên – An Giang
Chợ nổi Long Xuyên không lớn như các khu chợ khác nhưng là một điểm du khách nên đến trong chuyến tham quan chợ nổi để tìm về nét bình dị, yên ả, nguyên sơ của con người và sông nước nơi đây. Chợ cách thành phố Long Xuyên khoảng 2 km, nằm dọc theo một bên của dòng sông Hậu đỏ nặng phù sa.
5-JPG-1805-1418813599.jpg
Chợ nổi Long Xuyên, điểm đến cho những ai thích khám phá chợ nổi nguyên sơ, chân chất. Ảnh: Dulichhanhtrinhviet.
Hàng hóa chủ yếu ở đây là các loại hoa màu như: rau, dưa, cà, cải, bí, khoai…và các món ăn vặt nổi tiếng của vùng đất An Giang như bún cá, bánh tầm, bánh da lợn…
Điểm đặc biệt là hàng hóa mua bán không thách đố, trả giá, nói sao bán vậy bởi chợ nổi nơi đây còn ít du khách ghé thăm, người dân thân thiện, thật thà, không bị tác động bởi thương mại hóa du lịch. Do đó đây là nơi thích hợp cho các du khách muốn khám phá nét hoang sơ, nguyên bản trong những khu chợ nổi ở miền Tây.
6. Chợ nổi Trà Ôn – Vĩnh Long
Chợ nổi Trà Ôn là khu chợ nổi cuối cùng nằm trên dòng sông Hậu của huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long. Đây là một trong những khu chợ tồn tại lâu đời nhất cũng như gắn liền với nhiều nét sinh hoạt văn hóa của người dân trong khu vực.
6-1317-1418813600.jpg
Chợ nổi Trà Ôn, ngôi chợ lâu đời và đậm nét văn hóa vùng sông nước. Ảnh: Blogspot.
Điểm đặc biệt của chợ nổi Trà Ôn là nhóm họp theo con nước, buổi sáng chợ đông đúc nhưng tấp nập hơn là lúc con nước bắt đầu lên, nước càng lớn thì ghe, thuyền càng đông.
Do đó du khách dễ dàng khám phá khu chợ này vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Đến đây du khách đừng bỏ quên món ăn đặc sản nổi tiếng là bún bò viên ăn kèm với rau chuối và nghe những điệu hát ngọt ngào của Tình anh bán chiếu, Dạ cổ hoài lang trên quê hương của nghệ sĩ lừng danh Út Trà Ôn.
Văn Trã
i

CAMPUCHIA

Đền Angkor Wat, di tích quan trọng bậc nhất Campuchia


Angkor Wat (còn được gọi là đền Đế Thiên) được đức vua Khmer Suryavarman II xây dựng trong thế kỷ thứ 12. Ban đầu nó được xây dựng làm một ngôi đền Hindu, sau này Angkor Wat được sử dụng làm nơi thờ Phật sau khi chế độ quân chủ của Campuchia chuyển sang theo đạo Phật trong một vài thế kỷ sau đó.

Đền Angkor Wat
Ảnh: Đền Angkor Wat 

Angkor Wat có chu vi gần 6km và diện tích khoảng 200ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngôi đền chính, có độ cao 65m. Angkor Wat là đền duy nhất ở Campuchia có lối vào chính ở hướng Tây, hướng mặt trời lặn.

Angkor Wat được xây dựng bằng vô vàn phiến đá xanh, đây là dạng đền núi ở Campuchia có lối vào chính theo hướng Tây - hướng mặt trời lặn. Angkor Wat có 398 gian phồng, nối liền nhau bởi 1.500m hành lang. Bên trên, 5 toà tháp liên hoàn nhau bằng 3 tầng kiến trúc, trong đó toà tháp cao nhất lên tới 65m, 4 tháp phụ cao 40m. Con đường dẫn tới chính môn của Angkor Wat cũng làm bằng đá tảng dài 230m, rộng gần l0m và có độ cao 5m so với mặt nước hồ ở hai bên đền. Khu đền chính gồm 398 gian được gắn kết với nhau một cách chặt chẽ. Toàn khu đền tồn tại nhiều hình ảnh nghệ thuật chạm khắc đá như các tấm phù điêu khổng lồ, các cột, cửa, trần, tường, hành lang, lan can, mái..., tất cả toát lên sức mạnh phi thường và bàn tay điêu luyện của người Khmer cổ đại.
Đền Angkor Wat
Ảnh: Một góc khu đền Angkor Wat

Chính điện Angkor Wat là một kiến trúc ba tầng, kết nối với nhau nhờ những hành lang dài, sâu hút. Ở đâu cũng thấy chạm trổ hoa văn, phù điêu theo tích truyện cổ xưa xuất phát từ sử thi ấn Độ Mahabharata và Raymana.
Tầng 1, độc đáo nhất là dãy hành lang có những bức phù điêu nối tiếp trên tường 2,5m và chạy dài hơn 800m, miêu tả những điển tích trong kinh điển Bà La Môn và những chiến công của vua Suryavarman II - người tạo dựng ngôi đền. Phía trong cùng của bức phù điêu miêu tả cuộc chiến khuây biển sữa trong truyền thuyết, những chú khỉ và trận chiến của thần Sita, những điệu múa của tiên nữ Aspara... Nhờ phần trần và mái hành lang chạy dài xuyên suốt, bức phù điêu dường như được bảo vệ còn nguyên vẹn. Tầng 1 của Angkor Wat còn có các hồ nước, ngày xưa dùng cho vua tắm, tẩy rửa tội lỗi và thoát y. Hiện nay, hầu hết các hồ đã khô cạn nhưng để lại khoảng không khá rộng bao quang khu đền, điều đó góp một yếu tố bảo vệ cho khu di tích được tốt hơn.
Hành lang tầng 1 đền Angkor Wat
Ảnh: Dãy hành lang có những bức phù điêu được trạm khắc nối tiếp trên tường đá
Tầng 2 của Angkor Wat là một khoảng sân rộng được bao bọc bởi dãy tường thành, bên trong là các gian điện thờ các vị thần. Tại các gian thờ thần Visnu to lớn bằng đá đen, người dân Campuchia hiện nay lầm tưởng là Phật Thích Ca nên đã mặc áo vàng và thờ cúng như Phật giáo. Sự lầm tưởng giữa vị thần Hindu và Phật giáo cũng dễ dàng chấp nhận bởi sự giao thoa tôn giáo. Tầng 2 có vô số chạm khắc vũ nữ Apsara nhảy múa với bộ ngực trần và dáng điệu phong phú.
Điệu múa apsara
Ảnh: Trạm khắc các vũ nữ múa điệu Apsara nổi tiếng
Tầng cao nhất là tầng 3, với độ cao 65m, gồm hai hành lang chữ thập cắt nhau thẳng góc ở giữa. Điểm giao tiếp của hai hành lang là trung tâm đền Angkor Wat. Xưa kia trung tâm đền có thờ tượng thần Visnu bằng vàng, nay đã bị mất. Hiện giờ trung tâm đền có nhiều tượng thờ Phật. Tháp cao nhất Angkor Wat được xem lạ,nơi cư ngụ của thần thánh. Xung quanh tháp là bốn hành lang hình vuông, ở mỗi góc hành lang là một tháp thấp hơn. Tháp trung tâm và bốn tháp xung quanh tạo thành tòa chân trời nổi tiếng của Angkor Wat khi nhìn từ đằng xa hay lúc gần đến khuôn viên đền.

Monday, December 29, 2014

VN TRUYỆN CỔ

LỊCH SỬ VN
Về Trang Gốc Lịch Sử Việt Nam
Vua Gia Long xử tử vợ chồng Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân: MỘT NGÀY LỄ VU LAN SẦU THẢM
Với sự trợ giúp tích cực của người Pháp thông qua giám mục Pigneau de Béhaine tức Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh từ Xiêm La trở về nước chiếm lại Gia Định rồi tiến chiếm Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên, Quy Nhơn và Phú Xuân. Đến mùa Xuân năm 1802 Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long. Và sau đó trở về Phú Xuân, lập kinh đô mới đặt niên hiệu là Gia Long năm thứ nhất, sai sứ sang nhà Thanh xin phong vương. Việc triều chính đầu tiên cuả vua Gia Long là trả thù nhà Tây Sơn. Dưới đây là câu chuyện báo thù của vua Gia Long được phỏng theo sử liệu thời Tây Sơn và tài liệu của giáo sĩ De La Bissachère, người có dịp chứng kiến buổi hành hình trong cuốn ký sự "Relation sur le Tonkin et la Cochinchine" xuất bản năm 1807, mô tả lại cuộc hành hình đẫm máu tại Phú Xuân vào mùa Thu năm 1802.
Vào ngày trăng tròn tháng Bảy năm Nhâm Tuất 1802 tại kinh thành Phú Xuân, mới tờ mờ sáng, sương hãy còn bay lãng đãng trên mặt nước sông Hương thì tiếng súng thần công nổ vang trời báo hiệu cho toàn dân kinh thành biết hôm nay vua mở hội hành hình nhà Tây Sơn: xử tội tướng Trần Quang Diệu, nữ tướng Bùi Thị Xuân, mẹ Trần Quang Diệu và Trần Bích Xuân, con gái của đôi tướng tài. Dân chúng từ Quy Nhơn Bình Định đến Phú Xuân ai nấy đều biết rõ đôi danh tướng Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân đã bao lần xông pha chiến trường, chiến đấu dũng cảm, vào sinh ra tử từ Nam ra Bắc giúp vua Quang Trung thống nhất sơn hà.
Dọc đường bên dòng sông Hương dẫn đến pháp trường An Hoà, ngoại ô kinh thành Phú Xuân, nhà vua cho bố trí binh lính dày đặc, chung quanh pháp trường dân chúng tập trung đông đảo để được nhìn lần cuối hai vị tướng quả cảm anh hùng đã trở thành niềm kiêu hãnh của toàn dân.
Trời đã sáng, mặt trời lên cao nhưng bị che khuất bởi những vầng mây đen trở nên u ám thê lương. Một bầu không khí nghiêm trang hồi hộp của hàng ngàn người đang chờ đợi chung quanh pháp trường để chứng kiến một cảnh tượng ghê gớm chưa từng xảy ra trước đây trong lịch sử nước nhà.
Từ xa tiếng vó ngựa dồn dập cùng những hồi chiêng trống báo hiệu vua Gia Long và đoàn tuỳ tùng đến! Vua cùng đoàn tuỳ tùng ngồi trên các xe song mã dừng trước khán đài. Ngoài vua, người ta còn thấy các quan ngự sử, thượng thư cùng các phu nhân. Trong số những người nước ngoài đến tham dự có sự hiện diện của giám mục Eyot, giáo sĩ Le Labouse, giáo sĩ De La Bissachère, hai ông Dayot và Vannier thuyền trưởng hai chiến thuyền Pháp và hai viên sĩ quan bộ binh mang quân hàm Đại Tá quân đội viễn chinh Pháp phò tá quân lực của Nguyễn Ánh.
Sau đó đội hành quyết dẫn bốn người ra trình diện vua mà họ gọi là bốn tên tử tội: mẹ Trần Quang Diệu, tướng Trần Quang Diệu, nữ tướng Bùi Thị Xuân và cô con gái 15 tuổi Trần Bích Xuân. Mẹ Trần Quang Diệu, tuy gìa nhưng nét mặt vẫn quắc thước, còn nữ tướng Bùi Thị Xuân, tuy mặc quần áo vải thô bó sát thân người, chân bị còng dây xích bước từng bước ngắn rất khó nhọc nhưng vẫn toát ra một vẻ hiên ngang oai dũng.
Trước giờ hành quyết vua Gia Long hạ lệnh:
- Trần Quang Diệu. Ngươi có điều gì muốn nói trước khi chết không?
Trần Quang Diệu đứng thẳng, nghiêm trang nói:
-Mẹ ta nay tuổi già sức yếu, một đời người chẳng hại ai, nay đã ngoài tám mươi. Xin ngươi hãy tha chết cho mẹ ta.
Vua Gia Long đưa mắt nhìn mẹ Trần Quang Diệu rồi cười nói:
- Hôm nay là ngày Rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân, Ta mở lượng khoan hồng tha cho mẹ ngươi được sống nhưng nhà ngươi phải chết không toàn thây. Quân đâu, mang tên Trần Quang Diệu ra xử lăng trì. [3]
Mẹ Trần Quang Diệu nghe vậy đứng thẳng người giơ tay chỉ thẳng vào mặt vua Gia Long mắng:
- Thằng tiểu nhân ! Giết gì thì cứ giết việc gì phải phanh thây xẻ thịt. Ta quyết không vì sự sống của thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.
Nói xong tự mình dập đầu vào bậc tam cấp tự tử mà chết.
Bùi Thị Xuân đau đớn than rằng:
- Mẹ ơi! Sao mẹ lại huỷ hoại thân mình như thế làm chúng con đau lòng!
Ba hồi trống dục nổi lên, ngoài sân đội hành quyết bắt đầu hành hình tướng Trần Quang Diệu. Một tên chém đầu ông lìa khỏi cổ, tên thứ hai chém ngang hông đứt làm hai đoạn rồi chúng tiếp tục lóc da xẻ thịt!
Bùi Thị Xuân tức giận chỉ vào mặt vua Gia Long hét lớn:
- Nguyễn Ánh! Ngươi là kẻ tiểu nhân hèn hạ, đã làm điều dã man tàn bạo, đào mộ Tiên đế ta (tức vua Quang Trung), dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng mai này ai dám bảo ngươi là kẻ anh hùng.
Vua Gia Long cười mỉa hỏi:
- Ngươi thử cho ta biết, ta và Nguyễn Huệ, ai hơn ai?
- Luận về tài, ngươi làm sao so sánh được, một bên là mãnh hổ một bên là cẩu hèn. Tiên đế ta trăm trận trăm thắng từ Nam ra Bắc, đại phá quân Thanh lấy lại cơ đồ chỉ trong năm ngày. Còn ngươi cầu cứu quân ngoại bang cả vạn binh, chỉ một đêm bị quân ta đánh tan rã.
Vua Gia Long giận run người nhưng vẫn làm ra vẻ bình tĩnh hỏi:
- Còn nói về đức thì thế nào?
Bùi Thị Xuân đáp:
- Về đức, ngươi cũng không đáng để so sánh. Tiên đế ta lấy nhân nghĩa đối xử với các tôi nhà ngươi. Còn ngươi dùng tâm của kẻ tiểu nhân hèn hạ đối xử với các nghĩa sĩ. Tiên đế ta đánh đổ hai nhà Trịnh, Nguyễn là đem an lạc và đời sống ấm no cho sơn hà xã tắc. Còn ngươi rước quân ngoại bang về tàn sát lương dân, bắt được các sĩ tướng của Tiên đế ta thì xử tru di tam tộc. Tiên đế ta chết đã mười năm, ngươi còn đào mả lấy xương cốt làm tội.
Bùi Thị Xuân vừa dứt lời, các tướng hầu cạnh vua đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo:
- Đừng giết ngay, ta muốn xem gan nó lớn cỡ nào. Quân đâu! đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi giày trước mặt nó.
Bỗng một người con gái tuổi thanh xuân từ cánh trái khán đài tiến đến cạnh vua nói lớn:
- Xin Hoàng huynh hãy tha tội chết cho con gái Bùi Thị Xuân, nó còn trẻ dại đâu có tội tình gì?
Mọi người giật mình quay qua nhìn, thì ra là Quận Chúa Ngọc Du. Vua Gia Long lấy làm ngạc nhiên hỏi Ngọc Du:
- Trong trận đánh thành Bình Định, Trần Quang Diệu đã giết chết Võ Tánh chồng của em, sao em còn xin tha cho con gái của nó?
Ngọc Du trả lời:
- Thưa Hoàng Huynh. Ngày trước trong trận đánh thành Qui Nhơn, chồng em không giữ nổi thành nên đã tự vẫn và Bùi Thị Xuân đã tha mạng cho mẹ con em nên em mới còn sống đến ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha tội cho con gái Bà.
Vua Gia Long lắc đầu, đoạn quay sang bọn quân sĩ quát lớn:
- Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Quân đâu, hãy mang con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình!
Thế là một hồi trống dục lại nổi lên. Đội hành quyết áp tải người con gái tên Trần Bích Xuân ra sân lột hết y phục một cách dã man tàn bạo. Một võ sĩ khác dẫn một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần nàng. Khuôn mặt nàng biến sắc, Bích Xuân hoảng sợ nhìn về phía mẹ kêu thất thanh:
- Mẹ ơi cứu con với!
Bùi thị Xuân nghiêm nét mặt hét lớn:
- Con nhà tướng phải chết anh dũng! Hãy hiên ngang chết cùng cha mẹ còn hơn là sống với đám tiểu nhân bán nước!
Bùi thị Xuân vừa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Bà tung lên không trung. Khi nàng rơi xuống cùng với tiếng hét hãi hùng, voi đưa cặp ngà ra hứng, ngà voi nhọn xuyên qua người, Bích Xuân quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi quăng xác nàng xuống đất rồi dùng chân phải giày đạp lên. Xót thương thay người con gái trẻ chết nát tan thân thể. Mọi người mục kích đều rùng mình rơi nước mắt!
Nữ tướng Bùi Thị Xuân lặng người đớn đau. Bà kéo lê đôi chân đã bị xiềng đến gần con voi vừa giày đạp con gái mình. Khí sắc của bà vẫn hồng hào, hiên ngang như khi lâm trận. Tên điều khiển voi thúc voi quấn lấy bà. Voi vừa vươn vòi, bà trợn mắt hét lên một tiếng như sấm nổ, voi thất kinh co vòi thụt lui. Tên nài voi lại thúc voi, voi bước tới thấy bà lại thối lui. Tên nài không biết tính sao, lấy gậy đập vào đầu voi, voi thét lên một tiếng hất tên nài xuống đất rồi cắm đầu chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành quyết lại đưa voi khác vào thay, nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe nữ tướng hét lên đều co vòi quay đầu bỏ chạy. Thì ra chúng đã bị khuất phục khi nhận ra Bà đã cùng chúng bao phen vào sinh ra tử.
Ba hồi trống dục dứt tiếng. Cả pháp trường im phăng phắc đến nghẹt thở. Nguyễn Ánh muốn báo thù nên cho voi dẫm nát thân thể Bà, nhưng đã thất bại, tức giận quát lớn:
- Nếu voi không giết nổi người đàn bà này thì cho ngũ mã phanh thây [2]. Nhất định phải cho nó chết không toàn thây!
Ba hồi trống dục lại vang lên. Năm tên nài ngựa trong đội hành quyết dẫn năm con ngựa khỏe ra pháp trường, chúng dùng dây buộc mỗi con vào đầu, vào tay, vào chân nữ tướng xếp thành hình ngôi sao. Nữ tướng vẫn bình tĩnh, nét mặt không thay đổi và không tỏ chút sợ hãi nào. Tiếng trống tiềp tục dồn dập trong bầu không khí thê lương. Tên đội trưởng ra dấu hiệu cho năm tên nài cùng quất roi cho ngựa chạy về năm hướng làm thân xác Bà bị xé nhiều mảnh, máu me lai láng trông rất kinh hãi. Ai nấy đều xúc động, mặt đầm đìa nước mắt.
Thương thay cho nữ tướng tài ba, dũng cảm! một đời hy sinh cho sơn hà xã tắc, đã phải chết không toàn thây. Riêng Gia Long Nguyễn Ánh tỏ vẻ hân hoan sau khi đã tận diệt toàn gia đình tướng Trần Quang Diệu. Nguyễn Ánh đâu có biết cái chết hiên ngang của Bà đã trở thành một hình ảnh vô cùng oai hùng ở pháp trường, nó đã in sâu vào tâm khảm người dân từ Bình Định đến Phú Xuân. Họ vô cùng cảm kích trước trước sự anh dũng của nữ tướng khi chứng kiến những giây phút cuối cùng đầy khí phách, kiên cường của Bà và hình ảnh bất diệt này vẫn còn vang vọng đến ngày nay.
Xa xa có tiếng chuông chùa ngân vang vọng lại. Hôm nay các chùa đang thiết lễ Vu Lan, ngày báo hiếu cùng là ngày xá tội vong nhân. Chư Tăng Ni đang cầu nguyện cho các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn chiến tranh được vãng sinh về miền lạc cảnh, cho chúng sinh khắp mọi miền sớm được giải thoát khỏi cảnh khổ ải trầm luân, người người sống an vui hạnh phúc, không hận thù chia rẽ.
Chú thích:
[1] Bùi Thị Xuân, người ở thôn Xuân Hòa, phía Nam sông Côn, thuộc tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Có thể nói, trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ Đô đốc Bùi Thị Xuân, một nữ tướng văn võ toàn tài, vợ danh tướng Trần Quang Diệu, quê làng Xuân Hòa, huyện Bình Khê (nay là Phú Xuân, thị trấn Phú Phong huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Bà là vị anh thư đã cùng chồng hết lòng hết sức giúp nghĩa quân Tây Sơn lập nên một triều đại Tây Sơn. Năm 1778, Bùi Thị Xuân được Nhà Tây Sơn phong làm Đô đốc. Bà cùng chồng phò tá Nguyễn Huệ tiến ra Bắc đánh đổ Lê - Trịnh, đặt cơ sở vững chắc cho sự nghiệp thống nhất đất nước sau này. Đội tướng binh do bà huấn luyện đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử xuân Kỷ Dậu 1789.
[2] Có sách nói Bà bị xử hình điểm thiên đăng (dùng vải nhúng sáp nóng đem quấn chung quanh cơ thể, rồi cột vào trụ sắt xong châm lửa đốt)
[3] Tùng xẻo (còn gọi là lăng trì hay xử bá đao) (tiếng Hoa giản thể: 凌迟, tiếng Hoa phồn thể: 凌遲, bính âm: língchí) là một trong những hình phạt tàn khốc và dã man được dùng rộng rãi ở Trung Quốc thời cổ xưa từ năm 900 cho đến khi chính thức bãi bỏ vào năm 1905. Từ ngữ trong tiếng Hán "lăng trì" có nghĩa lấn lên một cách chậm chạp. Đây cũng là hình thức ghê rợn vào bậc nhất trong các án tử hình, phạm nhân sẽ vô cùng đau đớn vì không được chết nhanh chóng, có trường hợp xẻo tróc nửa phần thịt trên cơ thể mà phạm nhân vẫn còn giãy dụa gào thét. Mức độ tàn bạo của nó thì không có gì có thể sánh nổi; ngoài việc xẻo từng miếng thịt trên người tử tội, đao phủ còn có nhiệm vụ là giữ cho tử tội không được chết một cách nhanh chóng, tức là sau bao nhiêu nhát xẻo thì nạn nhân mới được chết.

Sunday, December 28, 2014

TẾT CƠM MỚI CỦA NGƯỜI PAKO

Tết cơm mới của đồng bào vùng cao

Khác với người miền xuôi, đồng bào Pacô ở huyện miền núi A Lưới (Thừa Thiên – Huế) đón tết truyền thống sớm hơn với các nghi lễ đặc sắc.
Lễ Aza hay còn gọi là lễ Tết cơm mới, một trong những nghi lễ truyền thống có từ thời xa xưa của người Pacô, được tổ chức nhằm tiễn đưa năm cũ và đón chào năm mới, chuẩn bị đón một vụ mùa mới.
 
Aza được đồng bào Pacô xem là lễ hội quan trọng thứ hai sau lễ Ariêu Pi-ing truyền thống và thường được tổ chức vòa tháng 11 âm lịch hàng năm. Ngày tiến hành lễ Aza của mỗi làng khác nhau vì ngày tổ chức do trưởng làng quyết định.
 
Mỗi khi làng tổ chức Aza, con cháu trong làng dù làm ăn xa cũng quay về nhà để cùng đón lễ với gia đình, làng xóm. Khác với Ariêu Pi-ing là cúng tập thể, Aza chú trọng đến từng gia đình, dòng họ riêng rẽ trong nghi lễ.
 
Phần lễ vật như cơm trắng, xôi, bánh aquat dẻo, gà, heo, vịt, dê, chuột… cúng cho đấng linh thiêng của bản làng gồm: Giàng Tro - giống như Thần Nông của người Kinh, đại diện cho cây trồng; Giàng Pơnanh - Thần Chăn nuôi; Giàng Panuôn - Thần Buôn bán; Giàng Sưtarinh - Thần Đất, đại diện đất đai và thời tiết.
 
Một thứ rất linh thiêng và không thể thiếu để thực hiện một nghi lễ trong quá trình tổ chức Aza là tâng họt - loại hoa làm từ tre được cắm lên từng vật lễ và những tấm dzèng.
 
Aquat - loại bánh nếp không nhân của bà con Pacô, là thứ không thể thiếu để đặt trên bàn lễ. Loại bánh này cũng giống như bánh chưng, bánh tét của người miền xuôi trong dịp Tết Nguyên đán.
 
Sau khi tổ chức cúng Giàng, nhà nào cũng lấy một phần lễ vật mang đến nhà sinh hoạt cộng đồng hay nhà trưởng làng để góp lễ chung vui với mọi người, đồng thời tổ chức cúng Giàng chung của cả làng.
 
Trước khi tiến vào nhà rông để tiếp tục cúng lễ chung của cả làng dưới sự chủ trì của già làng, các gia đình, dòng họ đồng bào Pacô thường đi theo đoàn mang theo lễ vật và múa những điệu múa truyền thống kết hợp với tiếng chiêng trống.
 
Tiếng kẻng đánh theo hồi dùng để hiệu triệu dân làng cùng đến tham gia phần lễ cúng Aza. Tại đây, đồng bào Pacô sẽ cùng nhau góp lễ cúng Giàng chung của bản làng.
 
Theo quan niệm của người Pacô, tiếng khèn hòa cùng tiếng chiêng, điệu múa truyền thống sẽ giúp cho buổi lễ Tết cơm mới thêm phần náo nhiệt, Giàng làng về dự lễ sẽ vui hơn khi nghe thấy tiếng nhạc

SINH VẬT BÍ ẨN

Thông Tin sưu tầm các loài vật.
 
On Wednesday, 24 December 2014, 2:20, "Luận Do
 
 
 

NHỮNG SINH VẬT BÍ ẨN TRÊN THẾ GIỚI.

 
Sự xuất hiện của những sinh vật bí ẩn khiến nhiều người hoảng sợ bởi hình thù "không giống ai" của mình.
“Người khỉ” Ấn Độ
Năm 2001, ở thủ đô New Delhi Ấn Độ xuất hiện tin đồn về “người khỉ”. Các nhân chứng cho rằng sinh vật này nhìn bề ngoài trông giống một con khỉ, nhưng lại giống con người ở chỗ có mái tóc đen, đội một chiếc mũ bảo hiểm kim loại, bàn chân với móng vuốt kim loại dài.
alt

Cũng có người tuyên bố rằng sinh vật bí ẩn này có đôi mắt màu đỏ, thân dài 8 feet (2,4 mét).
Người tuyết Đông Phương
Con quái thú với cái tên “người tuyết Đông Phương” này được tìm thấy tại một rừng cổ lâu đời ở Tứ Xuyên (Trung Quốc), sự xuất hiện của nó khiến các nhà khoa học phải bối rối.
alt

Theo nguồn tin từ phương tiện truyền thông Anh gần đây, các thợ săn địa phương đã bắt được con vật kỳ lạ này trong một khu rừng nguyên sinh tại tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc, lúc đó họ nghĩ rằng nó là một con gấu.
 Thủy quái
Thủy quái có nguồn gốc từ thượng nguồn lưu vực sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, trong thời cổ đại nó được gọi là “Thủy Hổ”, hay còn có tên khác là “Hà Bá”. Trong quyển “U Minh Lục” có ghi lại sinh vật này được gọi là “Thủy Trùng”.
alt

Cái tên “Trùng Đồng” hay “Thủy Tinh”, dân gian thường gọi “Thủy Hầu Tử (khỉ nước)”, hình dáng như thân người ở trần, thân dài to nhỏ không đồng đều, mắt, tai, mũi, lưỡi, môi tương ứng đều có, đầu như đội một chiếc chậu, chịu được mực nước sâu khoảng 3 – 5 trượng, có nước thì rất dũng mãnh, nhưng khi không có nước thì yếu ớt, không có sức mạnh.
Thủy quái cũng là một sinh vật huyền thoại được lưu truyền rộng rãi trong truyền thuyết Nhật Bản. Địa điểm phát hiện ra xác ướp của Thủy quái chủ yếu tập trung ở Kyushu - Nhật Bản.
Đặc biệt là những xác ướp thủy quái nổi tiếng được đặt ở Imari quận Saga với cơ thể dài khoảng 40 cm. Mặt khác, ở Zuiryuji Osaka cũng có bức ảnh về mẫu vật xác ướp thủy quái.
 Rồng
Mẫu rồng quý hiếm này được sưu tầm đặt tại Osaka Zuiryuji. Tương truyền rằng, nó được vận chuyển từ Trung Quốc đến Nhật Bản vào thời đại Mạc Phủ – Minh Trị năm thứ 11.
Người nông dân Trung Quốc đã tìm thấy con rồng này cho biết, khi ông đi ngang qua bờ sông thì thấy một con rồng đang nằm  thở thoi thóp, liền lập tức dùng thanh gỗ đánh bất tỉnh, sau đó cho vào bao tải.
alt

Vào khoảng hơn 370 năm trước đây, một thương nhân Nhật Bản có được con rồng tại một cảng của Trung Quốc, sau đó chuyển bán cho một nhà chuyên sưu tầm Bandai Tsuru samurai. Nhà sưu tầm Bandai rất quý nó, đến nỗi không thể rời xa.
Bandai Tsuru samurai là một nhà sưu tầm nổi tiếng, trước khi qua đời vào tháng 9 năm Thiên Hòa thứ 2, ông đã đem tặng con rồng này cho Zuiryuji, Naniwa Ward, thành phố Osaka, Nhật Bản làm hòm Thăng Long. Trong đó, ông còn có nhiều bộ sưu tập khác bao gồm người cá, thủy quái… Đây đều là quà tặng của phú thương Bandai Tsuru samurai; và con trai ông là Showa sau 50 năm một lần nữa chế tạo lại cái hòm.
Cá lông dài
Ngày 25 tháng 10 năm 1924, tờ Daily Mail của London có đăng bài viết “con cá giống như gấu Bắc cực”, mô tả lại sự kiện được chứng kiến tận mắt.
Một con cá lông dài và hai con cá voi sát thủ đã chiến đấu với nhau trong suốt 3 giờ, nó sử dụng cái đuôi để tấn công lại con cá voi sát thủ, hơn nữa còn nhảy lên khỏi mặt nước khoảng 20 feet. Hugh Ballance, một trong những nhân chứng của vụ việc, đã mô tả rằng con vật này trông giống như một “con gấu Bắc cực khổng lồ” (“gấu Bắc cực khổng lồ” trong trận đấu cuối cùng).
alt

Được biết, sau đó xác chết của sinh vật này trôi dạt và mắc cạn tại bãi biển, nhưng không có nhà khoa học nào đến để lấy mẫu nghiên cứu, do đó không có cách nào để mô tả và đối chiếu tính chân thực trong các ấn phẩm sau này, cũng không có hình ảnh được công bố.
Những người dạo chơi trên bãi biển đã mô tả con cá lông dài có lông da màu trắng tuyết, đuôi có hình giống như tôm hùm, thân thể như khúc gỗ. Cơ thể con cá đã không còn có máu. Khách du lịch ước lượng nó có thân dài khoảng 47 feet (14 mét) và rộng 10 feet (3 mét) cao 5 feet (1,5 mét), đuôi dài 10 feet (3 mét), chiều dài đuôi là 8 (20 cm).
Theo Nhân Mã/Gia đình Việt Nam